• Xem tuổi vợ chồng: Xung khắc theo ngũ hành nạp âm

    Xem tuổi vợ chồng: Xung khắc theo ngũ hành nạp âm, Khi đến tuổi kết hôn việc chọn đối tượng hợp tuổi là rất quan trọng với mỗi người.mời các bạn tham khảo bài viết về xem tuổi vợ chồng để chọn được bạn đời ưng ý nhất nhé!

    phong_thuy_mau_sac

    Theo chánh Ngũ Hành, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim. Mỗi lần thấy khác là luôn luôn có tai hại.

    Theo Ngũ Hành Nạp Âm, có khi hành này khác hành kia không phải là xấu, lại nhờ khắc đó mà ra tốt. Chó không phải mỗi lần khắc là xấu cả

    1.HÀNH KIM

    Sa trung, Kiếm phong lưỡng ban cầm Nhược cư Chấn đìa tiện tương xâm Ngoại hữu tứ Kim tu kị hỏa,
    Kiếm sa vô hỏa, bất thành hình.
    Nghĩa:
    Hai thứ Ngũ Hành Nạp âm, là: Sa Trung Kim và Kiếm Phong Kim, nếu gặp Mộc thì nó khắc ngay.
    Ngoài ra bôn thứ Kim khác là Hải Trung Kim, Bạch Lạp Kim, Kim Bạc Kim, Xoa Xuyến Kim, đều là kị Hỏa.
    Còn Kiếm Phong Kim và Sa Trung Kim chẳng những không kị Hỏa mà còn phải nhờ Hỏa mối nên hình
    (thành món khí cụ). Nhưng nếu can chi gặp xung khắc địa xung (ví dụ: Nhâm Thân, Quý Dậu là Kiếm Phong Kim gặp Bính Dần, Đinh Mẹo là Lư Trung Hỏa) thì phải tránh là tốt hơn.

    2. HÀNH HỎA

    Phú đăng, Lư Hỏa, Kỷ sơn đầu.
    Tom gia nguyên lý phạ Thủy lưu Ngoại bửu tam ban bất phạ Thủy Nhứt sanh y lộc, cận vương hầu.
    Nghĩa: ba thứ Hỏa là: Phú đăng hỏa, Lư Trung Hỏa, Sơn Đầu Hỏa đều sợ Thủy khắc.
    Ngoài ra, còn có ba thứ khác là: Thiên Thượng Hỏa, Thích Lịch Hỏa, Sơn Hạ Hỏa, lại không sợ Thủy.
    Trái lại, nếu có Thủy khắc, thì các mạng đó sẽ được một đời y lộc đầy đủ gần bực vương hầu.

    3.HÀNH MỘC

    Tòng bá, Dương liễu, Tang đố Mộc Thạch lựu, Đại lâm kị, Kim đao.
    Duy hữu thẫn nhiên Bình địa Mộc,
    Vô kim, bất đắc thượng thanh vân.
    Nghĩa:
    Năm thứ Mộc là: Tòng bá Mộc, Dương liễu Mộc, Tang đô’ Mộc, Thạch lựu Mộc, Đại lâm Mộc đều bị Kim khắc.
    Chỉ có một thứ Bình địa Mộc (gỗ), chẳng những không sợ Kim khắc, mà trái iạx, nếu không có nhờ Kim khắc, thì cầu công danh phú quí.

    4.HÀNH THỦY

    Thủy kiến: Thiên hà, Đại hải lưu,
    Nhị giả bất pha Thổ vi cừu.
    Ngoại hữu số ban tu kị Thổ,
    Nhút sanh y lộc tấn nan cầu.
    Nghĩa: Hai thứ Thủy, là Thiên hà Thủy và Đại hải Thủy, không khi nào sợ Thổ khắc. Nhưng nếu gặp can chi thiên khắc địa xung (Ví dụ: Bính Ngọ, Đinh Mùi là Thiên Hà Thủy gặp Canh Tý, Tân Sửu là Bích Thượng Thổ) thì phải tránh xa là tốt hơn.
    Ngoài ra, các thứ Thủy khác là: Gián Hạ Thủy, Tuyền Trung Thủy, Trường Lưu Thủy, Đại Khuê Thủy, đều bị Thổ khắc. Nếu bị Thổ khắc, tất nhiên một đời khó cầu y lộc.

    5.HÀNH THỔ

    Thành đầu, Ôc thượng dữ Bích Thượng,
    Tam Thổ nguyên lai pha Mộc xung.
    Ngoại bitu tam ban bất pha Mộc.
    Nhứt sanh thanh quí, bộ Thiềm cung.
    Nghĩa:
    Ba thứ Thổ, là: Thành đầu Thổ, ốc thượng Thổ và Bích Thượng vôn sợ Mộc xung khắc.
    Ngoài ra, có ba thứ Thổ khác, là: Lộ Bàng Thổ, Đại Địch Thổ và Sa Trung Thổ đều không sợ Mộc. Trái lại, nếu có Mộc khắc càng hay, đời người sẽ được thanh khiết, cao sang, vào trường thi là đậu (đăng khoa)
    Ở mỗi tờ lịch, dưói can chi của mỗi ngày, có ghi bổn mạng nào bị khắc là xấu, cho người xem lịch để biết mà tránh.

    6. NGŨ HÀNH NẠP ÂM TỈ HÒA

    Tỉ hòa nghĩa là hai bên ngũ hành cùng chung một loại; khác nào anh em ngang vai cùng vai nhau.
    Ví dụ: Mộc, Hỏa vối Hỏa V.V..
    Tỉ hòa có tốt cũng có xấu, như Nạp âm trúng tương sanh như nói trên là tốt, thì người ta nói:
    Lưỡng Hỏa thành điểm (lửa nóng).
    Lưỡng Mộc thành lâm (rừng)
    Lưỡng Thuỷ thành xuyên (sông)
    Lưỡng Thổ hành Sơn (núi)
    Lưỡng Kim thành khí (món đồ dùng).
    Đây là nói hai bên cùng đồng một loại ngũ hành cùng hiệp vói nhau, mà can chi sánh hợp, giúp thêm sức mạnh là tốt.
    Ví dụ: Giáp Thìn, Ất Tị, Phú Đăng Hỏa (lửa đèn), và Bính Thân, Đinh Dậu là Sơn Hả Hỏa (lửa dưới núi) hai bên sánh hạp lẫn nhau, mới thêm sức nóng, sức sáng, thì gọi là: Lưõng Hỏa thành viêm.
    Còn như xấu, thì người ta nói:
    Lượng Mộc Mộc chiết.
    Lưỡng Kim Kim khuyết.
    Lưỡng Hỏa Hỏa diệt.
    Lưỡng Thủy Thuỷ kiệt.
    Lưỡng Thổ Thổ liệt.
    Như hai bên cũng đồng thuộc ngũ hành. Nạp âm như nhau, mà có can khắc hay chi xung. Nếu bổn mạng bị xung khắc thì không nên dùng. Vào trường hợp này, không khi nào có một lượt vừa can khắc, vừa chi xung.
    Ví dụ: Mậu Tý, Kỉ Sửu là Thích Lịch Hỏa (lửa sấm sét) và Mậu Ngọ, Kỉ Mùi là Thiên Thượng Hỏa (lửa trên trời) hai bên thiên cung đồng một loại, mà địa chi lại tương xung. Nếu hai bên gặp nhau, mà bổn mạng bị xung hay khắc, thì gọi là Lưõng Hỏa Hỏa diệt.
    Cũng có sách nói: hai bên đồng một thứ ngũ hành, cả hai đấu nếu sức mà gặp nhau, là tốt. Như hợp lửa đèn và lửa dưới núi nói trên thì gọi là: Lưỡng Hỏa thành viêm. Còn hai bên đồng một thứ ngũ hành, cả hai đều mạnh sức mà gặp nhau là xấu. Như hợp lửa sấm sét và lửa trên tròi nói trên, thì đó là Lưỡng Hỏa Hỏa diệt.
    Thuyết này chưa chắc là đúng, không nên quá tin theo. Vì dầu yếu, dầu mạnh mà can chi tương sanh hợp, hay là can chi tuy xung khắc mà xung khắc bổn mạng, thì cũng ít hại. Ngũ hành Nạp âm tương khắc còn có khí tốt thay, huống hồ là hai bên tỉ hoà cùng nhau, phần tốt lấn hơn phần xấu là dùng được.
    Nên chú ý: chánh Ngũ Hành là phần căn bản, còn Ngũ Hành Nạp âm là phần phụ thuộc mà thôi

    Tìm kiếm phổ biến:

    • kiếm phong kim và sơn đầu hỏa
    • sơn đầu hỏa và kiếm phong kim
    • kiếm phong kim
    • kiếm phong kim và sơn đầu hỏa hợp nhau không
    • lư trung hỏa và kiếm phong kim
    • lộ bàng thổ và kiếm phong kim
    • sơn đầu hỏa khắc kiếm phong kim
    • kiem phong kim va lu trung hoa
    • đại lâm mộc và kiếm phong kim
    • kiếm phong kim và đại lâm mộc

    Trả lời

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

    7 Phản hồi Xem tuổi vợ chồng: Xung khắc theo ngũ hành nạp âm

    1. Loan viết:

      E là sơn đầu hỏa mà bạn e là hải trung kim liệu có đến được với nhau không ạ ? Rất mong được sự giúp đỡ ạ

    2. Dung viết:

      Add oi cho minh hoi… Ba là sơn đầu hỏa, ất hợi và con là sơn hạ hỏa, đinh dậu có gọi là khắc nhau ko vậy…

      • Admin viết:

        Thấy không liên quan lắm ạ, cùng mạng thì là Bình Hòa bạn @@ còn sơn đầu hỏa với sơn hạ hỏa không có gì khắc nhau cả.

    3. Nguyễn thùy ngọc anh viết:

      Cho mình hỏi mình tuổi quý dậu lấy chồng tuổi giáp tuất . tính sanh con trai năm tân sửu và con gái năm ngọ 2026. Vậy 2 con có ảnh hưởng gì với nhau hay với ba mẹ không? Vì ba là sơn đầu hỏa sợ bị thiên hạ thủy là con gái khắc

      • Admin viết:

        cái vụ này mình chịu, chỉ biết khắc ba mẹ thì sau sẽ không hợp ba mẹ. Kiểu dạng là sao nói nó nó cãi, hoặc không nghe lời đó 😀

    4. NguyễnĐìnhHưng viết:

      Nhân bài viết giải thích khái niệm về Thiên thượng hỏa . Tôi có đưa ra giải thích Thiên thượng hỏa tạm dịch là Lửa trên trời nhưng không phải Mặt trời hay Mặt trăng gì gì ở đây cả….Mặt trời vốn là khối cầu lửa lớn sưởi ấm cho trái đất và các hành tinh cũng như các ngôi sao trong Thái Dương Hệ. Đây cũng là tâm quay của nhiều ngôi sao khác. Khoa Học ngày nay đã chứng minh là cũng chẳng có các tinh thể hay vật thể mang lửa nào từ Mặt trời rơi xuống trái đất cả. Tất cả mọi thứ khi đến gần mặt trời thì đều hóa thánh tro bụi hết.
      Xét theo quan điểm này Mặt trời là cái gì quá quan trọng và to lớn trong Vụ Trụ. Theo quan niệm của người xưa khi chưa có khoa học để giải thích người ta quan niệm Mặt trời như là 1 Vị thần quan trọng- Vĩ đại. Nếu đã như vậy Những người Thiên thượng hỏa không thể coi Mệnh mình như là ÔNG MẶT TRỜI, họ là cái gì má so sánh với MẶT TRỜI hay mặt trăng ở đây. Nói thế thì họ quả là ghê gớm như Thần thành vậy. Quan niệm như vậy là sai, người xưa khi viết Tử Vi không đánh đồng quan niệm Bản mệnh của 1 người như là Thần thánh nói như thế sẽ là Phạm thượng –mạo phạm đến Thần thành đây là điều kiêng kỵ trong Tín ngưỡng Tâm lịnh xã hội xưa. Nhất là Mặt trời vốn dĩ được thờ cúng và sùng bái trong tín ngưỡng tâm linh nhiều dân tộc.
      Tiếp nữa nếu nói Thiên thượng Hỏa là Lửa từ Mặt trời thì sao không gọi là Lửa mặt trời cho nhanh mà được dùng để ám chỉ chung những gì thuộc Lửa từ trên trời. Theo tôi, quan niệm người xưa không coi như vậy, và thứ nữa do nhiều dị bản tài liệu từ người xưa khi lưu truyền cho lớp người sau đã bị thất lạc hoặc thiêu hủy do nhiều nguyên nhân.
      Theo cách Giải thích theo Cơ sở khoa học ngày nay thì Lửa trên trời vỗn dĩ là để chỉ những hiện tượng các Thiên thạch từ vũ trụ khi rơi xuống Trái đất với tốc độ rất cao thì do Ma sát với Bầu áp suất khí quyển của trái đất đã Bốc lửa ở phía bề mặt bên ngoài và tạo ra các Sao băng lửa rơi xuống Trái đất. Đây là 1 hiện tượng khoa học đã xảy ra rất nhiều và được nhiều tài liệu ghi chép lại. Người xưa do không giải thích được chuyện này nên gọi đó là Lửa từ trên trời rơi xuống.
      Hiểu theo cách thứ 2, khi loài người tạo ra được Thấu kính Hội tụ Họ đã sử dụng nó để tạo ra Lửa bằng cách tập trung ánh sáng Mặt trời chiếu qua thấu kính để Tụ nhiệt về các Vật dễ cháy như củi – rơm…! Ngọn lửa phát sinh từ đây cũng được gọi là Lửa lấy từ trên trời. Để tạo ra lửa thì nhiều cách, loài người ngay từ xưa đã nghĩ ra nhiều cách để tạo ra lửa.
      Với cách giải thích như vậy thì Lửa trên trời chỉ được hiểu là Lửa… như trên tôi đã giải thích thôi chứ không có gì ghê gớm ở đây cả. Bằng chứng là tuổi Mậu Ngọ và Kỷ Mùi với Bản mệnh Thiên thượng Hỏa là những tuổi bình thường không có thần thánh hóa gì cả. Loài người chúng ta cũng chẳng cần đến Lửa từ trên trời cho những mục đích A bờ kờ gì hết !, có khi còn gây tai họa cho nhân loại giống như hiện tượng Sao băng lửa khi rơi xuống gây chết chóc và phá hủy trái đất vậy. Mệnh thiên thượng hỏa có lẽ hợp thổ nhất, vẫn xung khắc với nước. Đối với người mệnh Mộc cũng chả cần tới Lửa này vì chúng ta có rất nhiều cách để tạo ra Lửa.